Trên cơ sở đó, trong giai đoạn từ nay đến 2015, thương mại điện tử phấn đấu đạt các mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất, tất cả các doanh nghiệp lớn tiến hành giao dịch thương mại điện tử loại hình doanh nghiệp với doanh nghiệp, trong đó 100% doanh nghiệp thường xuyên sử dụng thư điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh; 80% doanh nghiệp có trang thông tin điện tử, cập nhật thường xuyên thông tin hoạt động và quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp; 70% doanh nghiệp tham gia các trang thông tin điện tử bán hàng (gọi tắt là website thương mại điện tử) để mua bán các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 5% doanh nghiệp tham gia các mạng kinh doanh điện tử theo mô hình trao đổi chứng từ điện tử dựa trên chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử; 20% doanh nghiệp ứng dụng các phần mềm chuyên dụng trong hoạt động quản lý sản xuất và kinh doanh; hình thành một số sở giao dịch hàng hóa trực tuyến đối với những sản phẩm sản xuất tại Việt Nam chiếm tỷ trọng cao trên thị trường thế giới; hình thành một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử lớn có uy tín trong nước và khu vực.
Thứ hai, tất cả doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến hành giao dịch thương mại điện tử loại hình doanh nghiệp với người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp với doanh nghiệp, trong đó 100% doanh nghiệp sử dụng thư điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh; 45% doanh nghiệp có trang thông tin điện tử, cập nhật định kỳ thông tin hoạt động và quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp; 30% doanh nghiệp tham gia các website thương mại điện tử để mua bán các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, bước đầu hình thành các tiện ích hỗ trợ người tiêu dùng tham gia thương mại điện tử loại hình doanh nghiệp với người tiêu dùng, trong đó 70% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại cho phép người tiêu dùng thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng; 50% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toán phí dịch vụ của các hộ gia đình qua phương tiện điện tử; 30% cơ sở kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ như vận tải, văn hóa, thể thao và du lịch phát triển các kênh giao dịch điện tử phục vụ người tiêu dùng.
Thứ tư, phấn đấu phần lớn các dịch vụ công liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh được cung cấp trực tuyến, trong đó: Cung cấp trực tuyến mức độ 3 trở lên 80% dịch vụ công liên quan tới xuất nhập khẩu trước năm 2013, 40% đạt mức độ 4 vào năm 2015; cung cấp trực tuyến từ mức độ 3 trở lên thủ tục hải quan điện tử trước năm 2013; cung cấp trực tuyến từ mức độ 3 trở lên các dịch vụ liên quan đến thuế, bao gồm khai nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân trước năm 2013; cung cấp trực tuyến từ mức độ 3 trở lên các thủ tục đăng ký kinh doanh và đầu tư nước ngoài trước năm 2013, bao gồm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cấp giấy chứng nhận đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện và cung cấp trực tuyến từ mức độ 3 trở lên 50% các dịch vụ công liên quan tới thương mại và hoạt động sản xuất kinh doanh trước năm 2014, đến hết năm 2015 có 20% đạt mức độ 4.
Trong thời gian tới, để hoàn thành các mục tiêu này, chúng ta thực hiện các nội dung cơ bản sau:
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử
Để tạo điều kiện cho sự phát triển của thương mại điện tử và phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt Nam, trong thời gian tới, chúng ta cần rà soát, bổ sung và ban hành văn bản mới về các lĩnh vực:
Một là thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử, bao gồm việc thừa nhận giá trị pháp lý của hóa đơn, chứng từ kế toán ở dạng điện tử khi đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ thuế và kế toán khi triển khai hoạt động mua, bán trực tuyến hàng hóa hoặc dịch vụ; thừa nhận giá trị pháp lý của hồ sơ, đơn, giấy xác nhận ở dạng chứng từ điện tử khi đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể để hỗ trợ thực hiện một phần hoặc toàn bộ quy trình đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, đấu thầu mua sắm qua các phương tiện điện tử; thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, các loại giấy phép hay chứng nhận khác ở dạng chứng từ điện tử khi đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể để thuận lợi hóa thương mại quốc tế và triển khai thương mại không giấy tờ.
Hai là các quy định kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử là một ngành, nghề kinh doanh có mã đăng ký riêng.
Ba là các quy định về thuế, bao gồm các quy định ưu đãi về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử và khuyến khích người tiêu dùng mua bán trực tuyến; các quy định về mã sản phẩm và trị giá tính thuế hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu các sản phẩm số hóa phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Bốn là bảo vệ người tiêu dùng, trong đó ban hành các quy định bảo vệ người tiêu dùng và bảo đảm cho người tiêu dùng khi tham gia giao dịch thương mại điện tử được bảo vệ về mặt luật pháp theo chuẩn mực quốc tế như trong giao dịch thương mại truyền thống.
Năm là về quản lý website thương mại điện tử, trong đó quy định về đăng ký, quản lý website thương mại điện tử trên cơ sở tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh.
Sáu là về an toàn thông tin trong giao dịch thương mại điện tử, bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thông tin trong giao dịch thương mại điện tử; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng đối với các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử phù hợp với quy mô giao dịch và chuẩn mực quốc gia và quốc tế; văn bản quy phạm pháp luật quy định về bảo vệ thông tin cá nhân phù hợp pháp luật liên quan, đảm bảo thông tin cá nhân trong giao dịch thương mại điện tử được bảo vệ về mặt pháp luật theo chuẩn mực quốc tế và các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Bảy là các quy định về giải quyết tranh chấp, vi phạm pháp luật trong thương mại điện tử bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật quy định giá trị pháp lý làm chứng cứ của chứng từ điện tử; giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong hoạt động thương mại điện tử, bao gồm cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến; chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại điện tử; thẩm quyền và cơ chế thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về thương mại điện tử của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử và văn bản quy định về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao và trong thương mại điện tử vào Bộ Luật Hình sự.
Ngoài ra, trong thời gian tới, nhà nước cũng sẽ ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật khác về sở hữu trí tuệ phù hợp thông lệ quốc tế và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử; điều chỉnh các đối tượng phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử; các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật khuyến khích các hoạt động kinh doanh dịch vụ trực tuyến và ác chính sách, văn bản quy phạm pháp luật để triển khai các mô hình thanh toán trực tuyến.
Phát triển nguồn nhân lực về thương mại điện tử
Phát triển nguồn nhân lực có một vai trò vô cùng quan trọng đối với việc hoàn thành Kế hoạch tổng thể này. Theo đó, trong thời gian tới, chúng ta tập trung thực hiện giải pháp phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích của thương mại điện tử thông qua việc xây dựng các chương trình tập huấn cán bộ quản lý kinh tế ở Trung ương và địa phương và các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ chuyên trách về thương mại điện tử; đồng thời phổ biến, tuyên truyền về lợi ích và kỹ năng ứng dụng thương mại điện tử cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng các ngành sản xuất và dịch vụ chính; quảng bá các doanh nghiệp điển hình thành công trong ứng dụng và cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.
Bên cạnh đó, việc đào tạo chính quy về thương mại điện tử cũng cần được đẩy mạnh thông qua các hình thức như ban hành chương trình khung về đào tạo thương mại điện tử trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp; tăng cường giảng dạy kỹ năng ứng dụng thương mại điện tử trong các trường dạy nghề và ứng dụng đào tạo trực tuyến trong hoạt động đào tạo thương mại điện tử theo hướng khuyến khích các tổ chức đầu tư, phát triển công nghệ đào tạo trực tuyến, hỗ trợ các trường đại học và doanh nghiệp liên kết trong việc thiết kế nội dung, giáo trình đào tạo trực tuyến; đồng thời hỗ trợ về vốn và các ưu đãi về thuế nhằm đẩy nhanh hình thức đào tạo trực tuyến.
Cung cấp trực tuyến các dịch vụ công liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ đẩy mạnh việc cung cấp trực tuyến các dịch vụ công liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng các cam kết quốc tế về thương mại không giấy tờ trong các lĩnh vực như thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, đầu tư, đăng ký kinh doanh và các dịch vụ công khác liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẽ cung cấp trực tuyến thông tin về thị trường nước ngoại bằng tiếng Việt cho các doanh nghiệp Việt Nam và thông tin về thị trường Việt Nam cho các doanh nghiệp nước ngoài bằng tiếng Anh và một số tiếng nước ngoài phổ biến khác; trao đổi các chứng từ điện tử liên quan tới hoạt động quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ với nước ngoài.
Việc cung cấp thông tin về các dự án sử dụng vốn nhà nước, thông tin về đấu thầu trong mua sắm chính phủ và từng bước tiến hành đấu thầu mua sắm chính phủ trực tuyến với lộ trình cụ thể như sau:
- Trước năm 2012, tất cả các cơ quan Nhà nước từ Trung ương tới địa phương cung cấp thông tin về các dự án sử dụng vốn nhà nước, thông tin về đấu thầu trong mua sắm chính phủ lên trang thông tin điện tử của mình hoặc của cơ quan chức năng.
- Đến hết năm 2015, tất cả kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, kết quả đấu thầu, danh sách nhà thầu tham gia được đăng tải trên mạng đấu thầu quốc gia; khoảng 20% số gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn sử dụng vốn nhà nước được thực hiện qua mạng; thí điểm hình thức mua sắm chính phủ tập trung trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Việc công khai thông tin liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh cũng được đẩy mạnh, bao gồm công khai và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận các thông tin liên quan tới doanh nghiệp, bao gồm cơ sở dữ liệu về đăng ký thành lập, chia tách, sát nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp; cơ sở dữ liệu về thuế; cơ sở dữ liệu về quản lý xuất nhập khẩu như khai hải quan, chứng nhận xuất xứ, cấp phép nhập khẩu; cơ sở dữ liệu về quản lý thị trường và quản lý cạnh tranh. Ngoài ra, việc kết nối trực tuyến các cơ sở dữ liệu liên quan tới doanh nghiệp giữa Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Công thương và các Bộ, Ngành khác trước năm 2015 cũng sẽ được thực hiện.
Phát triển và ứng dụng công nghệ, dịch vụ thương mại điện tử
Song song với các giải pháp trên, trong thời gian tới, các chính sách, biện pháp khuyến khích đầu tư phát triển và chuyển giao công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử cũng sẽ được ban hành, trong đó tập trung những chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng phần mềm mã nguồn mở khi triển khai các ứng dụng thương mại điện tử; khuyến khích người tiêu dùng mua bán trực tuyến các sản phẩm số hóa; thúc đẩy phát triển thương mại điện tử và công nghiệp nội dung số; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cho thuê thiết bị tính toán, phần mềm và các dịch vụ công nghệ thông tin và viễn thông khác; các chính sách huyến khích phát triển các hoạt động thương mại dựa trên công nghệ di động, các dịch vụ số hóa cung cấp thông quan các thiết bị đầu cuối di động (điện thoại di động, thiết bị dữ liệu cá nhân PDA, thiết bị vi tính bỏ túi pocket PC, v.v…) và khuyến khích nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển thanh toán trực tuyến; khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các tiện ích thanh toán qua phương tiện điện tử hỗ trợ người mua hàng.
Để phát triển thương mại điện tử, chúng ta cũng sẽ tập trung phát triển các dịch vụ tích hợp dựa trên công nghệ tiên tiến, bao gồm khuyến khích cung cấp trên cơ sở thương mại các dịch vụ dựa vào Hệ thống thông tin địa lý (GIS); Hệ thống thông tin định vị toàn cầu (GPS) và tập trung nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các công nghệ được sử dụng nhiều trong hoạt động thương mại (công nghệ nhận dạng theo tần số radio RFID, mã số mã vạch, thẻ thông minh, v.v…).
Việc ban hành và phổ biến các tiêu chuẩn, quy chuẩn sử dụng trong thương mại điện tử cũng được coi là giải pháp quan trọng. Theo đó, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử ứng dụng trong thương mại điện tử tới các doanh nghiệp và các tổ chức đào tạo về thương mại điện tử sẽ được ban hành. Đồng thời thực hiện việc hỗ trợ thí điểm một số doanh nghiệp ứng dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo mạng kinh doanh điện tử giữa các doanh nghiệp này và nhân rộng mô hình mạng kinh doanh điện tử tới nhiều doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, các hoạt động về an toàn thông tin trong giao dịch thương mại điện tử theo các mục tiêu, giải pháp quy hoạch phát triển an toàn thông tin số quốc gia cũng sẽ được triển khai thực hiện nhằm: nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của an toàn thông tin, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử trong việc đảm bảo an toàn thông tin, lợi ích của việc sử dụng chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số trong hoạt động thương mại điện tử; phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực cho website thương mại điện tử; khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhan ứng dụng các công nghệ bảo mật tiên tiến để thông tin trao đổi trên môi trường mạng máy tính được đảm bảo an toàn. Bên cạnh đó, đẩy mạnh các hoạt động cấp chứng nhận website thương mại điện tử uy tín để đến năm 2015, có ít nhất 5% website thương mại điện tử được cấp chứng nhận website điện tử uy tín; phổ biến lợi ích của hoạt động này đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng; khuyến khích các tổ chức cấp chứng nhận website thương mại điện tử uy tín hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức cấp chứng nhận website thương mại điện tử uy tín của nước ngoài và thừa nhân lẫn nhau về nhãn tín nhiệm.
Ngoài ra, trong thời gian tới, chúng ta sẽ tiếp tục phát triển các hoạt động thương mại dựa trên công nghệ thẻ trong các dịch vụ giao thông công cộng, phân phối, văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch.
Nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước
Song song với các giải pháp trên, để đảm bảo thực hiện Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử, trong thời gian tới, chúng ta cũng sẽ thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý nhà nước, trong đó tập trung vào các nội dung sau:
Một là nâng cao năng lực quản lý nhà nước về thương mại điện tử tại các địa phương. Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan chức năng tăng cường quản lý nhà nước về thương mại điện tử; chủ động tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp tại địa phương ứng dụng thương mại điện tử; tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động quảng bá, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm, tham gia giao dịch trực tuyến, đổi mới phương thức kinh doanh, cải tiến quy trình quản lý.
Hai là xây dựng lực lượng cán bộ có chuyên môn đáp ứng được công tác quản lý nhà nước về thương mại điện tử ở Trung ương và địa phương. Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và có kế hoạch đào tạo chuyên sâu cho cán bộ chuyên trách thương mại điện tử cấp Sở; tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến về thương mại điện tử, liên kết hợp tác trong các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử.
Ba là xây dựng cơ chế, bộ máy phù hợp để giải quyết kịp thời những tranh chấp và vấn đề phát sinh trong thương mại điện tử; nâng cao năng lực của bộ máy thực thi pháp luật để xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong thương mại điện tử
Bốn là triển khai hoạt động thống kê về thương mại điện tử và các hoạt động hỗ trợ thương mại điện tử với lộ trình như sau:
- Trước năm 2012 ban hành các tiêu chí, phương pháp thống kê thương mại điện tử theo đúng quy định tại Luật Thống kê. Kiện toàn bộ máy tổ chức từ Trung ương tới địa phương để triển khai hoạt động thống kê về thương mại điện tử.
- Từ năm 2012 công bố Sách trắng về thương mại điện tử Việt Nam với các số liệu thống kê tình hình triển khai ứng dụng thương mại điện tử trên toàn quốc, nhằm hỗ trợ hoạt đọng quản lý nhà nước, hoạt động kinh doanh và hội nhập quốc tế về thương mại điện tử.
- Hỗ trợ Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam và các tổ chức xã hội nghề nghiệp xây dựng chỉ số sẵn sàng ứng dụng thương mại điện tử theo doanh nghiệp và địa phương, xếp hạng website thương mại điện tử.
Năm là tăng cường hợp tác quốc tế về thương mại điện tử. Theo đó, trong thời gian tới, chúng ta chủ động tham gia hợp tác quốc tế về thương mại điện tử và các lĩnh vực liên quan với các tổ chức kinh tế thương mại quốc tế và khu vực, cá tổ chức thương mại của Liên Hợp quốc, các tổ chức thương mại đa phương, song phương và các đối tác thương mại khác; nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp hợp tác với các đối tác nước ngoài tạo môi trường phát triển thương mại điện tử quốc tế, tăng cường hoạt động kinh doanh trực tuyến qua biên giới và chuyển giao công nghệ.
Sáu là đẩy mạnh hoạt động xây dựng chính sách, chương trình, dự án tổng thể hỗ tợ cộng đồng doanh nghiệp hiện diện trên môi trường Internet, xây dựng thương hiệu trực tuyến, triển khai hoạt động tiếp thị điện tử…nhằm giúp doanh nghiệp thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh, ứng dụng cách thức quản lý và điều hành tiên tiến.
Bảy là xây dựng giải thưởng quốc gia về thương mại điện tử, đưa tiêu chí phát triển thương mại điện tử vào chỉ tiêu đánh giá xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của các địa phương.
Cuối cùng là phải đảm bảo tính đồng bộ và liên thông thông tin giữa các Bộ, ngành trong các hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến doanh nghiệp, tiến tới hình thành các cơ sở dữ liệu quốc gi dùng chung cho các lĩnh vực hải quan, thuế, quản lý doanh nghiệp, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tài chính tín dụng, thống kê. Bên cạnh đó, việc chia sẻ thông tin về tài nguyên Internet giữa Bộ Thông tin và Truyền thông với Bộ Công thương cũng sẽ được thực hiện nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các website thương mại điện tử./.
H.T |